THỦ THUẬT TIN HỌC TỔNG HỢP




Remote Desktop Windows XP có một chức năng đặc biệt giúp bạn truy cập đến máy vi tính của mình thông qua một máy khác, tất nhiên là chỉ khi máy tính của bạn được kết nối với máy khác hoặc trong mạng nội bộ. Để sử dụng chức năng này, bạn vào Control Panel >System > Remote, click vào ô vuông trước "Allow users to connect remotely..." rồi OK. Bây giờ, muốn truy cập vào máy tính của mình, bạn chỉ cần vào Start >Programs >Accessories >Communications >Remote Desktop,
nhập tên và IP address của máy vào, click "Connect". Lưu ý: máy tính của bạn phải có router, firewall, và bạn định cấu hình một số thiết bị để có thể cho phép chương trình chạy trên Port 3389. ------------------------------------------------------------------------ Font chữ mềm mại hơn cho desktop Vào Start >Control Panel >Display >Appearance >Effects, và click vào ô vuông trước "Use the following method to smooth edges of screen fonts". Bạn chọn "ClearType" rồi OK. -------------------------------------------------------------------------- Thay đổi kích cỡ icon trên desktop Đối với Windows XP, bạn click chuột phải lên desktop, chọn Properties để hiển thị tab Appearance, click vào Advanced. Tại đây, bạn sẽ chọn icon trong menu, bây giờ bạn có thể hô biến thay đổi kích thước icon cho đến khi thật ưng ý bằng việc thay đổi số trong ô vuông. Ở đây, bạn cũng có thể sửa đổi font, khoảng cách giữa các icon. Trong Windows 98/ME, bạn cũng thực hiện những thao tác trên nhưng không cần click vào Advanced. -------------------------------------------------------------------------------- Tạo lại icon cho chức năng Show Desktop Nếu bạn lỡ tay xóa mất icon Show Desktop, bạn vẫn có thể cứu vãn tình thế bằng cách tự tạo icon mới. Sử dụng Notepad để tạo file có nội dung như sau: [Shell] Command=2 IconFile=explorer.exe,3 [Taskbar] Command=ToggleDesktop Đặt tên file là Show Desktop.scf và save trong thư mục System 32 bằng cách vào Windows >System or Winnt >System32. Bạn nên chú ý vì thường Notepad rất hay tự ý đặt phần mở rộng của file là .txt. Việc này có thể dẫn đến hậu quả là bạn sẽ có ngay file với cái tên "ngầu" Show Desktop.scf.txt đến mức mà PC cũng bó tay không đọc được. Vào My Computer >Windows >System or Winnt >System 32, click chuột phải lên file Show Desktop.scf, và chọn Create Shortcut. Để đưa shortcut vào Quick Launch, đối với Windows 95 và 98, bạn copy shortcut vào thư mục tại đường dẫn Windows >Application Data >Microsoft >Internet Explorer >Quick Launch. Còn trong Windows NT hoặc 2000, copy shortcut vào thư mục Winnt >System3. Trong Windows XP, đường dẫn là WINDOWS >System32 >Config > Systemprofile >Application Data >Microsoft >Internet Explorer >Quick Launch. Việc cuối cùng là đặt lại tên Desktop cho file. ----------------------------------------------------------------------- Thay đổi size chữ với nút cuộn trên chuột Nếu đang duyệt web trong Explorer hay Netscape hoặc đang đọc mail trong Outlook Express, hãy thử giữ phím Ctrl và quay tròn nút cuộn trên con chuột để thay đổi kích cỡ của chữ. Chữ lớn hơn hay nhỏ hơn tùy thuộc vào cách bạn quay nút. Cách này còn hiệu nghiệm đối với cả hình ảnh trong chương trình Opera ( Thư viện Tin Học )

25 Tiện Ích Ẩn Trong Windows
Windows XP Hidden Applications

Để chạy một trong các chương trình này bạn vào menu Start >> Run và gõ tên file thực thi, Ví dụ như gõ: charmap và ấn Enter để chạy chương trình
1. Character Map = charmap.exe (rất hữu dụng trong việc tìm kiếm các ký tự không thông dụng)
2. Disk Cleanup = cleanmgr.exe (dọn dẹp đĩa để tăng dung lượng trống)
3. Clipboard Viewer = clipbrd.exe (Xem nội dung của Windows clipboard)
4. Dr Watson = drwtsn32.exe (Công cụ gỡ rối)
5. DirectX diagnosis = dxdiag.exe (Chẩn đoán và thử DirectX, card màn hình & card âm thanh)
6. Private character editor = eudcedit.exe (cho phép tạo ra hoặc sửa đổi các ký tự(nhân vật?))
7. IExpress Wizard = iexpress.exe (Tạo ra các file nén tự bung hoặc các file tự cài đặt)
8. Mcft Synchronization Manager = mobsync.exe (cho phép đồng bộ hóa thư mục trên mạng cho làm việc Offline. Không được cung cấp tài liệu rõ ràng).
9. Windows Media Player 5.1 = mplay32.exe (phiên bản cũ của Windows Media Player, rất cơ bản).
10. ODBC Data Source Administrator = odbcad32.exe (Làm một số việc với các cơ sở dữ liệu)
11. Object Packager = packager.exe (Làm việc với các đối tượng đóng gói cho phép chèn file vào, có các file trợ giúp toàn diện).
12. System Monitor = perfmon.exe (rất hữu ích, công cụ có tính cấu hình rất cao, cho bạn biết mọi thứ bạn muốn biết về bất kỳ khía cạnh nào của hiệu suất PC, for uber-geeks only )
13. Program Manager = progman.exe (Legacy Windows 3.x desktop shell).
14. Remote Access phone book = rasphone.exe (Tài liệu là ảo, không tồn tại).
15. Registry Editor = regedt32.exe [also regedit.exe] (dành cho việc chỉnh sửa Windows Registry).
16. Network shared folder wizard = shrpubw.exe (Tạo các thư mục được chia sẻ trên mạng).
17. File siganture verification tool = sigverif.exe
18. Volume Contro = sndvol32.exe (Tôi bổ sung cái này cho những người bị mất nó từ vùng cảnh báo của hệ thống).
19. System Configuration Editor = sysedit.exe (Sửa đổi System.ini & Win.ini giống như Win98! ).
20. Syskey = syskey.exe (bảo mật cơ sở dữ liệu tài khoản WinXP - cẩn thận khi sử dụng, Nó không được cung cấp tài liệu nhưng hình như nó mã hóa tất cả các mật khẩu, Tôi không chắc về chức năng đầy đủ của nó).
21. Mcft Telnet Client = telnet.exe
22. Driver Verifier Manager = verifier.exe (có vẻ như là một tiện ích theo dõi hoạt động của các Driver(trình điều khiển) phần cứng ,có thể hữu ích đối với người gặp sự cố với các Driver. Khộng được cung cấp tài liệu)
23. Windows for Workgroups Chat = winchat.exe (Xuất hiện như là 1 tiện ích WinNT cũ cho phép chat trong mạng LAN,có file trợ giúp).
24. System configuration = msconfig.exe (Có thể sử dụng để quản lý các chương trình khởi động cùng với Windows)
25. gpedit.msc được sử dụng để quản lý các chính sách nhóm và các quyền hạn.
Nói chung là mọi người cứ chạy Run rồi gõ mấy chữ tôi tô màu đỏ vào và tìm hiểu một chút để biêt công dụng của nó
Nếu có đuôi exe thì có thể bỏ qua ko cần gõ phần đuôi

4 cách đăng nhập vào Windows

Cách 1:

Cách này được dùng nếu trước đây, khi tạo password trong “User accounts”, bạn đã có thêm vào dòng “Password hint”cụm từ gọi ý trong trường hợp quên password. Khi bạn gõ nhầm password, Windows sẽ nhắc giúp bạn câu này để có thể giúp bạn nhớ lại password.

Cách 2

Đối với cách này, bạn cần tạo đĩa mềm cứu hội khi quên password gọi là “Password reset disk”. Bạn cần lưu ý là đĩa mềm này phải được format lại. Bấm tổ hợp phím Ctrl+Alt+Del để làm hộp hội thoại Windows Security hiện ra.

Nếu khi bấm tổ hợp phím này mà không thấy hộp hội thoại Windows Security hiện ra, mà thay vào đó là Windows Task Manager thì bạn hãy làm theo cách sau: Vào User Account trong Control Panel, bấm chọn Change the way user log on or off và bỏ đánh dấu chọn vào Use the Welcome Screen.

Bây giờ bạn bấm lại tổ hợp phím Ctrl+Alt+Del và vào Change password (hãy bấm phím Shift+C). Chọn vào Backup và làm theo hướng dẫn trên màn hình. Chú ý: Trong phần Current user account passowrd là pasword hiện thời của bạn. Nếu như bạn chưa thiết lập thì bạn hãy bỏ trống phần này. Sau quá trình hoàn tất, trê đĩa mềm của bạn sẽ có một file userkey (dung lượng khoảng 2KB)

Sử dụng đĩa mềm này cũng rất đơn giản: Khi vào Windowws, một khi bạn đã gõ sai password thì hộp thoại “Login Failed” hiện ra, bạn chọn Reset. Trình Password reset wizard sẽ giúp bạn tạo mới một password hit vào phần reset the user account password rồi bấm nút OK.

Sau khi quá trình này hoàn tất, bạn trở lại hộp thoại đăng nhập và login bằng password vừa mới tạo. Nếu bạn để trống, có nghĩa bạn chọn đăng nhập vào windows mà không cần password.

Một vào lưu ý khi sử dụng Password reset disk:
Đối với hệ điều hành Windows XP sẽ có một file riêng. Do vậy, bạn không thể dùng đĩa password reset disk của máy tính này để reset password cho máy tính khác.

Bạn cũng có thể dùng đĩa password reset đík để thay đổi tài khoản trên máy chủ trong mạng LAN

Cách 3

Cách này là đăng nhập bằng tài khoản quản trị (administrator) để reset lại password cho user. Với tài khoản quản trị này, sau khi vào Windowws, bạn bấm tổ hợp phím Win+R. Sau đó, bạn gõ vào control userpassword2. Tiếp theo, bạn chọn vào reset password trên account đã quên password. Giờ bạn chỉ cần chọn một password mới cho user này và confirm (xác nhận) là hoàn tất! hoặc bạn có thể vào User account để thay đổi (change) trực tiếp password cho account này.

Cách 4

Bạn cũng đăng nhập vào hệ thống với tài khoản administrator. Sau đó bấm tổ hợp phím Win+R và chạy compmgmt.msc. Vào thư mục User trong Local User and Gróup. Bấm phải vào user đã mất password, chọn Set Password. Bấm chọn Proceed. Tiếp theo, bạn chỉ cần gõ password và xác nhận lại. Bấm nút OK để kết thúc.


Chụp lại hình ảnh trong Windows Media Player

Thông thường để chụp lại hình ảnh trên màn hình người dùng thường sử dụng phím Print Screen.Thật không may nếu bạn muốn chụp lại hình ảnh của Video Clip đang phát trong Windows Media Player thì cách này lại ... vô dụng.

 Sau đây tôi sẽ hướng dẫn bạn một cách khá đơn giản để chụp lại hình ảnh trong Windows media Player

Khi đang phát Clip trong Windows Media Player, bạn nhấn phím "Ctrl + I", nếu như file bạn đang chạy được Microsoft hỗ trợ thì sẽ xuất hiện cửa sổ Save As cho phép bạn lưu lại hình ảnh vừa chụp.

Việc này khá đơn giản và nhanh chóng. song không phải lúc nào cũng thực hiện được và chất lượng hình ảnh thường không được như ý muốn (quá nhỏ). Nếu bạn muốn chụp được hình ảnh ở bất kỳ kích cỡ nào, thậm chí fullscreen thì cần phải điều chỉnh lại một chút.

 1. Chạy Microsoft Windows Media Player.
2. Nhấn vào menu Tools, chọn Options.
3. Trong của sổ Options nhấn vào tab Performance.
4. Trong tab Performance, nhấn vào nút Advanced.
5. Trong Video Acceleration Settings bỏ chọn "Use Overlays"
6. Nhấn Ok.
7. Cuối cùng, nhấn Apply rồi Ok Trong cửa sổ Option.


Phá PassWord CMOS

Cài password CMOS được xem là một trong những biện pháp khá hữu hiệu để bảo mật máy tính. Phá password CMOS là một điều hết sức khó khăn nhưng không phải là không thể làm được. Tuy nhiên để thực hiện thành công cũng đòi hỏi bạn phải có một “tay nghề” nhất định. 

Có một vài cách để phá password CMOS như: thay chip BIOS, ngắt mạch chip BIOS, sử dụng jumper, tháo pin trên mainboard, phá password CMOS bằng một số lệnh, nhập vào các password mặc định của nhà sản xuất… nhưng đối với giới tin học “bình dân học vụ” như chúng ta thì may ra có 2 phương pháp sau là tạm có thể áp dụng được.

1. Nhập vào các password chuẩn của BIOS do nhà sản xuất đã mặc định sẵn.

- Đối với loại Award BIOS thì ta có thể nhập vào các password mặc định sau để thử bẻ khóa password đã đặt trước đó: AWARD SW, AWARD_SW, Award SW, AWARD PW, _award, awkward, J64, j256, j262, j332, j322, 01322222, 589589, 589721, 595595, 598598, HLT, SER, SKY_FOX, aLLy, aLLY, Condo, CONCAT, TTPTHA, aPAf, HLT, KDD, ZBAAACA, ZAAADA, ZJAAADC, djonet.

- Đối với loại Ami BIOS thì dùng: AMI, A.M.I., AMI SW, AMI_SW, BIOS, PASSWORD, HEWITT RAND, Oder.

- Một số password dùng chung cho Ami, Award và một số BIOS khác có thể thử như: LKWPETER, lkwpeter, BIOSTAR, biostar, BIOSSTAR, biosstar, ALFAROME, Syxz, Wodj.

Nhưng thực ra phương pháp này cũng không hiệu quả lắm vì ngoài những nhãn hiệu Award, Ami… thì còn hàng chục nhãn hiệu BIOS khác mà hầu như ta không thể biết được các password mặc định là gì.

2. Phá password CMOS bằng phần mềm chuyên dùng hoặc câu lệnh ở môi trường DOS:

Nếu bạn được phép sử dụng một máy tính đang được cài password CMOS thì bạn có thể dùng một số lệnh DEBUG chạy trong môi trường DOS để phá password. Đây là những lệnh có thể làm mất hiệu lực bộ nhớ BIOS, giúp cho nó trở về trạng thái nguyên thuỷ, tức trước khi bị cài password. Nhưng thực chất việc này cũng hết sức khó khăn vì không phải lúc nào cũng có thể vào được môi trường DEBUG.

Một cách hiệu quả hơn là bạn vào địa chỉ http://www.cgsecurity.org/cmospwd-4.8.zip để tải về công cụ mang tên “Cmos Password Recovery Tools 4.8” -> Giải nén file này -> Tìm đến thư mục Windows -> Kích hoạt file cmospwd_win.exe để file này tự động xóa đi bộ nhớ BIOS hiện tại. Nếu may mắn thì lần khởi động sau sẽ không password BIOS nữa. Để “chắc ăn”, bạn nên vào thư mục “DOS” và kích hoạt file cmospwd.exe để thử lại một lần nữa.

3. Tháo hẳn cục pin mainboard để xóa hoàn toàn bộ nhớ BIOS.

Đây là thao tác tác động vào phần cứng để xóa hoàn toàn bộ nhớ BIOS được xem là hiệu quả nhất, nếu “gan” một chút thì ai cũng có thể làm được.

Ban đầu bạn phải tháo thùng máy ra -> Quan sát thật kỹ trên bản mạch máy tính để tìm ra một viên pin có đường kính cỡ như một đồng xu 200 đồng được gắn trong một ô hình tròn vừa khít với viên pin. Tìm được viên pin này thực ra cũng không khó lắm -> Quan sát kỹ và tháo viên pin ra bằng cách bấm vào cái “jumper” như hình minh họa -> Lấy pin ra và chờ khoảng 30 phút cho “chắc ăn”, tức đảm bảo cho mọi dữ liệu lưu trong BIOS sẽ “bay hơi” hết -> sau đó gắn vào đúng như hình minh họa. Khi khởi động lại máy tính thì BIOS sẽ tự động trả về mọi thứ đúng như mặc định ban đầu và dĩ nhiên password cũng sẽ biến mất.

Đảm bảo rằng đa số trường hợp tháo pin ra đều thành công còn nếu khi gắn pin vào mà password vẫn còn nguyên thì bạn lại phải tháo ra và chờ đợi thời gian “bay hơi” lâu hơn nữa, có thể là cả ngày. 

Lock folder không cần đến software

Bây giờ vào Run ---> Regedit ---> HKEY_CLASSES_ROOT/CLSID
Bạn sẽ thấy một list giá trị. Tiếp theo ở trên thanh toolbar chọn edit ---> Find , và tìm tên thư mục bạn muốn biến đổi thành. Ví dụ bạn muốn làm cho thư mục Test của mình giống như thư mục My Computer thì ở chỗ Find, bạn nhập My Computer vào và sau đó nhìn xuống dưới góc bên trái màn hình ta sẽ thấy
HKEY_CLASSES_ROOT\CLSID\{20D04FE0-3AEA-1069-A2D8-08002B30309D}

ok ta đã đi được 1 nửa chặng đường
Bây giờ bạn đã biết được giá trị CLSID của My Computer. Sau đó đi đến thư mục bạn muốn giấu, right-click và RENAME
Chọn cho nó 1 cái tên và tiếp theo là dấu "." (không có ") rồi copy tên key mà bạn đã thấy trong registry. Như cái của tôi sẽ rename lại là:
Test.{20D04FE0-3AEA-1069-A2D8-08002B30309D}

Rồi nhấn Enter ! Lúc này bạn sẽ thấy thư mục Test có biểu tượng giống như My Computer và nhấn vào đó thì bạn sẽ biết . Còn khi nào muốn vào thư mục đó thì chỉ cần rename lại ở dos (hoặc là vào Run ---> cmd). Ví dụ:
C:\>ren Test.{20D04FE0-3AEA-1069-A2D8-08002B30309D} Test

Lúc này thì bạn có thể vào lại thư mục của mình.

Ngoài ra bạn có thể tạo biểu tượng giống như CONTROL PANEL, MY NEWORK
PLACES, MY DOCUMENTS, etc

Recycle Bin- {5ef4af3a-f726-11d0-b8a2-00c04fc309a4}
My Computer- {20D04FE0-3AEA-1069-A2D8-08002B30309D}
Control Panel- {3FC0B520-68A9-11D0-8D77-00C04FD70822}
History- {00BB2764-6A77-11D0-A535-00C04FD7D062}
Printers- {2227A280-3AEA-1069-A2DE-08002B30309D}

Đưa bộ Microsoft Office 2006 (450 MB) vào trong một đĩa mềm !

Thế giới của những phần mềm có chức năng nén file thật rộng lớn! Trước đây, WinRar và WinZip được biết đến như hai công cụ nén file tối ưu nhất. Gần đây, "chốn giang hồ" xuất hiện thêm 2 gương mặt có tỷ lệ nén file còn tốt hơn, đó là 7-Zip và UHARC. Chưa dừng lại ở đó, "võ lâm đồng đạo" mới đây lại một phen náo loạn trước một "cao thủ" nén file có cái tên xa lạ - KGB Archiver (KA).

Thiên hạ đệ nhất... nén !

KA là sản phẩm được "phát minh" bởi tác giả Tomasz Pawlak (người Ba Lan). Ngoài khả năng nén nhỏ dữ liệu đến mức "không thể nhỏ hơn", KA còn được tích hợp thêm một thuật toán mã hóa dữ liệu siêu cấp AES-256 bit, có nghĩa là những dữ liệu được nén bởi KA thì chỉ KA mới giải nén được. Điều đáng tiếc là không phải máy tính nào cũng có khả năng "chiêu dụ" KA, bởi nó đòi hỏi một cấu hình hệ thống khá cao: hệ điều hành Windows NT/2000/XP/2003, CPU có tốc độ 1,5 GHz trở lên và bộ nhớ RAM tối thiểu là 256 MB. Tuy là "thiên hạ đệ nhất" nén file, nhưng KA cũng có một "tử huyệt", đó là tốc độ nén file siêu chậm. Một file bất kỳ khi được nén bởi những phần mềm cùng chức năng có thể chỉ mất vài giây, trong khi với KA lên đến hàng phút.

Xin giải thích thêm về tựa đề bài viết: Ngay sau khi tung KA vào thị trường, Tomasz Pawlak cũng tặng luôn cho người dùng một món quà có một không hai, đó là một bộ Microsoft Office 2006 (MO) có dung lượng 1,43 MB, tất nhiên là sau khi được nén bởi KA. Nếu còn bán tín bán nghi về chuyện này, bạn có thể tải về bộ MO siêu nhỏ tại địa chỉ http://anonym.to/?http://www.zshare.net/download/mso-rar.html. Rồi tải miễn phí và cài đặt phiên bản mới nhất của KA tại địa chỉ http://www.download.com/%203001-2250_4-10502588.html (dung lượng chỉ 873 KB).

Sau khi tải MO rồi cài đặt KA, bạn giải nén file mso.rar vào một thư mục nào đó, bấm đôi vào file mso.kgb để xem thử bên trong bộ MO ẩn chứa những gì? Còn về kỹ thuật nén nhỏ dữ liệu "siêu tưởng" của Tomasz Pawlak thì xin mọi người từ từ nghiên cứu! Nếu thực sự rảnh rỗi và đủ kiên nhẫn, bạn hãy giải nén MO để sử dụng bằng cách bấm vào nút Next, nhưng cần lưu ý là thời gian giải nén tất cả file của MO là rất lâu, có thể lên tới hàng giờ. Theo thử nghiệm của Tomasz Pawlak trên một máy có cấu hình CPU 3.2 Ghz và RAM 1 GB thì thời gian chờ đợi mất khoảng 2 giờ 47 phút !

Cách sử dụng

Hoàn tất quá trình cài đặt KB, một hộp thoại xuất hiện yêu cầu bạn cấu hình thông số làm việc cho chương trình. Do những thông số được khuyến cáo là khá chuẩn nên bạn có thể bỏ qua việc này. Trên desktop lúc này cũng xuất hiện thêm hai shortcut mới là KGB Archiver Compress và KGB Archiver Decompress.

Muốn sử dụng KA để nén dữ liệu, bạn bấm đôi vào shortcut KGB Archiver Compress để mở giao diện tương tác của chương trình, song cách nhanh nhất là bấm phải chuột vào những file hoặc thư mục cần nén rồi chọn dòng lệnh Compress to KGB.

Tại mục Archive format, bạn sẽ thấy KA chỉ hỗ trợ cho hai định dạng file là *.KGB và *.ZIP. Mục Compression level đưa ra 10 cấp độ nén khác nhau để bạn tùy chọn tương ứng với tỷ lệ nén nhỏ dữ liệu của chúng (mặc định là normal). Theo thử nghiệm, bạn chỉ nên chọn đến cấp độ Extreme, vì hệ thống sẽ báo lỗi lúc bắt đầu nén dữ liệu nếu bạn chọn cấp độ tối đa là Maximum.

Để nén một file hay nhiều file cùng lúc, bạn bấm nút Add file rồi tìm chọn những file tương ứng, tương tự bấm nút Add directory khi muốn nén tất cả file trong một thư mục nào đó. Mục Password cho phép bạn tạo ra mật khẩu bảo vệ file nén, còn nếu muốn tạo kiểu file nén tự chạy (tính năng này chỉ hỗ trợ cho người sử dụng Windows XP), bạn đánh dấu ở mục Create SFX module (Windows only). Kế tiếp, tại mục Archive, bạn bấm vào nút ba chấm, rồi chọn tên và nơi sẽ lưu file nén được tạo ra sau này. Tiếp đó, bấm nút Next để chương trình bắt đầu nén dữ liệu.

Tại mục Compression level, nếu bạn chọn cấp độ nén hơi cao hơn mức bình thường (normal), có thể ngay sau đó sẽ có một hộp thoại xuất hiện với nội dung như sau: "Quá trình nén dữ liệu có thể ngốn hơn 75% dung lượng bộ nhớ vật lý của hệ thống...", vì vậy trong lúc sử dụng KA, bạn không nên mở thêm bất cứ một ứng dụng thứ ba nào khác. Sau đó, bạn bấm Yes để tiến trình được tiếp tục.

Ở hộp thoại xuất hiện sau cùng, để quá trình nén dữ liệu diễn ra nhanh hơn, bạn có thể thiết lập mức ưu tiên cao hơn mà CPU dành cho chương trình với tùy chọn Above normal hoặc High (tại mục Priority). Nếu những dữ liệu cần nén có dung lượng lớn hay trong khoảng thời gian chờ đợi, bạn cần làm gấp một công việc gì đó thì nên đánh dấu ở mục Turn off computer after done để chương trình tự động tắt máy giúp bạn khi quá trình nén dữ liệu kết thúc.

Một số phím tắt cho Windows, Office, IE ...

Những người sử dụng máy tính ngày nay thường tận dụng các tiện ích để đơn giản hóa trong cách gọi một tập tin, bật một cửa sổ windows mới hay dùng đến tính năng copy và paste (dán) một tập tin đến một folder hay vị trí cần....

Những nút ký tự thường được dùng là "CTRL và ALT" nhưng cũng có nút mà không dùng được đó là phím "F".

Để sử dụng các nút gọi tắt này th́ người dùng phải giữ một trong các nút đưa ra "lệnh" và nút c̣n lại. Ví dụ như lệnh copy: sử dụng ngón tay để giữ nút "Ctrl" và ngón c̣n lại ấn nút "C" ==> Ctrl+c.

Việc sử dụng các phím tắt thành thạo rất có lợi trong quá tŕnh dùng máy tính cũng như Internet.

Có 3 cách chính trong việc sử dụng các phím tắt:
Phím CTRL - Các phím tắt thông dụng

CTRL+A Chọn tất cả
CTRL+B Chữ đậm
CTRL+C Sao chép
CTRL+F T́m kiếm
CTRL+H Thay thế
CTRL+I Chữ in nghiêng
CTRL+N Mở cửa sổ mới
CTRL+O Mở file
CTRL+P In
CTRL+S Lưu file
CTRL+U Chữ gạch chân
CTRL+V Dán ( dùng kết hợp với CTRL+C hoặc CTRL+X)
CTRL+X Cắt
CTRL+Y Redo typing
CTRL+Z Hoàn tác (Undo typing)
CTRL+F4 Đóng một file đang hoạt động trong chương tŕnh hiện tại.

Phím ALT - Các phím tắt thông dụng


ALT+F4
Đóng một chương tŕnh đang mở hoặc từ màn h́nh nền Windows, cho phép bạn tắt hoặc khởi động lại Windows.

ALT+Enter
Trong Windows Explorer và My Computer, hiển thị bảng thuộc tính của file đă chọn.
Trong cửa sổ ḍng lệnh MS DOS, chuyển qua lại giữa chế độ ṭan màn h́nh và chế độ cửa sổ.

ALT+PRINT SCREEN
Sao chép ảnh của một cửa sổ đang hoạt động vào Windows Clipboard. Xem chi tiết thêm ở phần sử dụng phím PRINT SCREEN.

ALT+SPACEBAR
Mở menu phím tắt trên thanh tiêu đề của một cửa sổ đang mở.

ALT+SHIFT+TAB
Chuyển sự tập trung sang cửa sổ đang mở đằng trước. Ấn và giữ các phím ALT và SHIFT đồng thời, khi đó ấn thêm phím TAB để chọn các cửa sổ đang mở đằng trước.

ALT+TAB
Chuyển sự tập trung đến cửa sổ đang mở kế tiếp.

ALT+[Ký tự được gạch chân]
Các ký tự được gạch chân trong các menu có thể được sử dụng trong các phím tắt. Ấn ALT +[Ký tự được gạch chân] để mở menu tương ứng và sau đó ấn ký tự được gạch chân khác để thực thi lệnh tương ứng. Ví dụ, trong Microsoft Word Ký tự "F" được gạch chân trong menu File trên thanh menu . Ấn Alt+F để mở menu File, sau đó ấn "C" để thực thi lệnh đóng cửa sổ đang hoạt động.

Phím biểu tượng Windows(Windows Logo) - Các phím tắt thông dụng


Phím Windows logo
Mở menu Start của Windows.

Windows logo key+BREAK
Mở mục System Properties trong Control Panel.

Windows logo key+D
Hiển thị hoặc dấu đi màn h́nh nền Windows.

Windows logo key+E
Mở Windows Explorer.

Windows logo key+F
T́m kiếm file hoặc thư mục(folder).

CTRL+Windows logo key+F
T́m kiếm một máy tính(trong mạng).

Windows logo key+F1
Khởi động phần trợ giúp(Help) của Windows .

Windows logo key+M
Cực tiểu hóa tất cả các cửa sổ đang mở (các cửa sổ có nút Minimize).

Shift+Windows logo key+M
Phục hồi các cửa sổ đă được cực tiểu hóa sử dụng phím tắt "Windows logo key+M".

Windows logo key+R
Hiển thị hộp thoại Run.

Windows logo key+TAB
Chọn chương tŕnh đang mở kế tiếp được liệt kê trong thanh tác vụ; tiếp tục giữ phím Windows logo trong khi ấn và nhả phím TAB để chọn các chương tŕnh liền nhau theo thứ tứ trên thanh tác vụ(taskbar). Ấn ENTER để kích hoạt chương tŕnh đă chọn.

Windows logo key+SHIFT+TAB
Chọn chương tŕnh đang mở đằng trước được liệt kê trên thanh tác vụ. Ấn và giữ phím Windows logo và phím SHIFT đồng thời, trong khi đó ấn và nhả phím TAB để chọn các chương tŕnh có trước theo thứ tự. Ấn ENTER để kích hoạt chương tŕnh đă chọn.

Bên cạnh đó có thêm một vài nút phím tắt khác như:

CTRL+ALT+DELETE Mở tŕnh quản lư tác vụ (task manager).
CTRL+SHIFT+ESC Mở nhăn Processes trong tŕnh quản lư tác vụ ( task manager).
CTRL+ESC Mở menu Start lên.

---
Một số phím tắt trong MS Internet Explorer:
F1 Mở file trợ giúp.
F3 bật/tắt thanh t́m kiếm (search bar) (phía tay trái).
F4 chọn thanh địa chỉ và mở nó
F5 Nạp lại trang Web hiện tại.
F6 chọn thanh địa chỉ.

Hẹn giờ shutdown ko dùng phần mềm
Bạn thường dùng gì để hẹn giờ tự tắt máy ? Một phần mềm tích hợp chăng ?
Còn tôi thì chỉ quen dùng các công cụ có sẵn trong WinXP thôi
Để hẹn giờ tự shutown (hoặc restart, tùy bạn). bạn làm như sau:
Nhấn Start/Run. Gõ "shutdown -i" và nhấn Enter. (không có dấu ngoặc kép)
Cửa sổ Remote Shutdown hiện ra 
Bạn đặt thời gian hẹn giờ tắt mát (giây), trong phần Comment nhập bất kì rồi nhấn nút OK
Hoặc gõ câu lệnh (Shutdown -s -t giây)

Tắt bớt các dịch vụ của Windows để tăng tốc

Các dịch vụ của Windows (Services) là một trong những thành phần cốt lõi của mọi ứng dụng trên Windows. Với việc sử dụng hợp lý (đóng - ngắt hoặc tạm dừng) sẽ giúp bạn khai thác Windows một cách hiệu quả nhất. Ngoài ra sự hiểu biết các dịch vụ này sẽ giúp bạn tối ưu hóa Windows, tăng cường bảo mật và giảm thiểu virus khi mà các dịch vụ không cần thiết được loại bỏ.


Những nguy cơ tiềm ẩn khả năng tấn công của máy tính thường nằm trong sự thiếu hiểu biết 1 phần nào đó của Windows mà bạn đã vô thức để cho hệ thống tự chạy. Hơn nữa hệ thống có thể sẽ nặng nhọc hơn khi mà phải "gồng mình" khởi động các dịch vụ này. Để truy cập vào các dịch vụ (Services) từ Start bạn chọn --> Control Panel --> Administrative Tools --> Services --> Kích phải chuột vào từng dịch vụ và chọn Properties bạn chọn General --> Startup Type sẽ có 03 lựa chọn Automatic (Sẽ tự khởi động theo mặc định Windows), Manual dùng trong trường hợp bạn tự cấu hình chạy hoặc không chạy mà không phụ thuộc vào cấu hình mặc định Windows, Disabled để đóng dịch vụ khi mà bạn không cần thiết dịch vụ này.

Cũng trong General tab còn có các lựa chọn Start - Stop - Pause - Resume giúp bạn quyết định khởi động hay dừng nhưng bạn phải chú ý rằng khi bạn không lựa chọn Startup Type ở trên thì các chức năng này chỉ có tác dụng trong phiên làm việc hiện tại của Windows mà sau đó khi bạn khởi động lại máy hệ thống lại trả về trạng thái ban đầu vì vậy khi quyết định ngừng hoặc khởi động dịch vụ bạn phải chọn lựa Startup Type.

Cảnh báo:Khi bạn đóng ngắt dịch vụ nào đó tức là bạn đã vô hiệu hóa chức năng bất kỳ trong Windows mà có thể bạn sẽ dùng sau này vì vậy chúng tôi đề nghị bạn đọc kỹ các tính năng trước khi ngắt bỏ (Disabled). Một số tính năng khi mà bạn ngắt bỏ có thể làm cho máy tính báo lỗi do hệ thống đang sử dụng nó cho các ứng dụng được bạn cài đặt


Alerter: Dịch vụ này giúp thông báo cho các máy tính và người dùng được chọn những sự cảnh báo mang tính chất hành chính. Bạn để nó nếu bạn cảm thấy nó cần thiết với bạn. Nếu không thì hãy tắt nó đi.

Application Layer Gateway : Cần thiết nếu bạn muốn dùng Firewall trong Windows ( Internet Connection Firewall ) hoặc Chia sẻ thông tin mạng của Windows ( Windows Internet Connection Sharing ). Sẽ rất vô dụng nếu như bạn không dùng 2 ứng dụng trên.

Application Management : Bạn không dùng chung 1 mạng với ai đó ? Bạn không không có ý định điều khiển 1 trình nào đó thông qua mạng ? Nếu không hãy vô tư mà Disable nó.

Automatic Updates : Bạn muốn máy tự động cập nhật Windows. 1 số trường hợp quay số kết nối để cập nhật mà chủ nhân không biết. Trả tiền cước hàng triệu đồng... Nếu cập nhật mà không mấy hiệu quả thì không cần cập nhật, ngọai trừ các lổ hổng bảo mật lớn thì tự vào website microsoft cập nhật thôi.

Background Intelligent Transfer : Hỗ trợ Windows Update, nếu bạn tắt Automatic Update ở trên thì vô hiệu hóa dịch vụ này nhằm giảm sức nặng hệ thống phần nào.

Clipbook : Cho phép bạn xem những gì lưu trữ trong Clipboard, sắp xếp chúng có trật tự để có thể thi hành tác vụ những gì trong Clipbard. Bạn có thể không cần làm quan trọng mọi việc đến như vậy. Tắt nó đi sẽ giúp các lệnh Copy-Paste-Cut nhanh hơn. Bạn có thể xem nó họat động như thế nào qua cách đánh clipbrd.exe vào lệnh Run trong Start Menu.


COM+ : Cả hai Event System và System Application Services giúp quản lý và nắm quyền Microsoft's Compoment Object Model. Nếu như bạn cần tìm hiểu về vấn đề này, chỉ Microsoft mới có câu trả lời tốt nhất tuy là bằng tiếng anh _www.microsoft.com/com/tech/complus.asp. Nói chung, có thể một phần mềm nào đó sẽ cần đến dịch vụ này để chạy, tốt nhất bạn thiết lập nó ở chế độ Manual

Computer Browser : Không hề liên quan gì đến trình duyệt web thân yêu của bạn. Ý nghĩa dịch vụ này là theo dõi những hệ thống khác kết nối vào máy bạn qua 1 mạng chia sẻ. ...Quyết định tùy bạn
Cryptographic services: Dịch vụ chứng nhận - đánh giá trong WinXP. Cho dù bạn cảm thấy không cần thiết với nó, nhưng khuyên bạn nên để nó chạy vì vài tính năng khác của nó khá hữu ích như kiểm tra chứng nhận trình điều khiển các thiết bị của winxp.


DHCP Client: Khi bạn lên mạng hoặc không, dịch vụ này sẽ lấy 1 địa chỉ IP cho bạn. Bạn có thể thử tắt nó. Nhưng nếu bạn bắt đầu gặp những vấn đề lỗi, hiệu hóa nó lại. (Ý kiền cá nhân: Nên tắt nó đi nếu bạn không dùng mạng hoặc bạn dùng mạng nhưng lại đặt IP tĩnh.)


Distributed Link Tracking Client : Quản lý các Shortcut đến tập tin trên Server nào đó . Nếu bạn đã vô hiệu hóa 2 dịch vụ trên thì cũng nên bỏ luôn cái này.


DNS Client: Dịch vụ này giải đáp và thiết lập một bộ đệm về tên miền để hỗ trợ cho máy tính bạn đang sử dụng. Nếu bạn không sử dụng Internet thì nên tắt dịch vụ này đi.


Error Reporting : Tự động thông báo lỗ
i có thể là 1 tính năng khá tốt nhưng đôi khi lại quá làm phiền và vô dụng.

Event Log : Bỏ. Nhiệm vụ của nó chỉ là ghi lại những báo cáo đôi khi khó hiểu. (Ý kiền cá nhân: Không nên tắt dịch vụ này vì nếu tắt không những không làm cho máy khởi động nhanh hơn mà còn làm cho máy khởi động cực chầm.)

Fast User Switching Compatibility : Nếu bạn không dùng máy chung với nhiều người thì vô hiệu hóa cái này tăng năng lực cho máy rất nhiều.

Help and Support : Sự trợ giúp là 1 điều quý báu nhất là khi ta gặp khó khăn. Nhưng nếu bạn không rành Tiếng anh và không biết nó nói cái gì.... vậy thì nên tắt nó đi thì hơn.

HTTP SSL: Kết nối từ client đến server được thực hiện bằng giao thức HTTPS (HTTP + SSL). Chỉ sử dụng dịch vụ này khi bạn chạy Web Server.


Human Interface Device Access Service: Mở rộng và điều khiển những phím nóng trên các thiết bị nhập. Ví dụ những nút bấm trên bàn phím Play-Next-Internet-Search. Nếu bạn không thường dùng nó, tắt dịch vụ này đi và tận hưởng 0.85% hệ thống nhanh hơn.


IIS Admin: Cho phép bạn quản lý dịch vụ Web và FTP thông qua dịch vụ Internet Information Services (IIS). Nếu bạn không dùng đến những dịch vụ trên thì hãy tắt nó.

IMAPI CD-Burning COM Service :Thật sự ra dùng Nero ghi đĩa trực quan hơn dịch vụ có sẵn trong WinXP này.


Indexing services: Tự động tra sóat thông tin trên ổ cứng nhằm giúp các ứng dụng như Search của windows, Office XP chạy nhanh hơn. Tuy nhiên nó chiếm nhiều tài nguyên và thật sự không xứng đáng với tính năng nó họat động.


IPSEC services: Nếu như máy tính của bạn thuộc vào lọai viễn thông và kết nối với máy khác bởi VPN thì Internet Protocol Security ( IPSEC ) có thể cần thiết. Tuy nhiên tôi không dám mơ tưởng máy mình dữ dội đến vậy. Tạm thời tắt nó đi.


Logical Disk Manager : Nếu như bạn muốn quản lý đĩa cứng của mình ( bấm phải trên biểu tượng My Computer, chọn Manage rồi đến Disk Management ), thì dịch vụ này không thể bị vô hiệu hóa. Vì trình Disk Management phụ thuộc dịch vụ này để chạy. Tuy nhiên, có lẽ bạn không sài đến thường xuyên Disk Management , thiết lập nó sang Manual sẽ là tốt nhất.

Messenger: Vào năm trước , những kẻ Spammer đã nhận ra 1 cách có thể gửi hàng triệu Spam đến người dùng WinXP thông qua Messenger này. Lọai bỏ dịch vụ này là lựa chọn sáng suốt

MS Software Shadow Copy Provider/Volume Shadow Copy: Hỗ trợ Microsoft Backup hay các trình sao lưu ảnh đĩa khác. Một lần nữa, bạn có thể thử qua việc tắt nó, nếu có sai sót nào trong việc sao lưu thì khởi động lại nó sẽ giải quyết vấn đề.

Net Logon:Hỗ trợ việc chứng thực để đăng nhập vào một máy tình thuộc miền.


NetMeeting Remote Desktop Sharing : Không muốn chia sẻ với ai bất cứ cái gì trên máy bạn thông qua NetMeeting ? Không = Disable


Network Connections: Quản lý những đối tượng trong kết nối mạng và kết nối mạng quay số, trong đó bạn có thể thấy được cả mạng cục bộ và những kết nối từ xa.


Network DDE: Cung cấp việc truyền tải và an toàn mạng cho sự trao đổi dữ liệu động (Dynamic Data Exchange(DDE)). Cho những chương trình chạy trên cùng một máy tính hoặc trên những máy tính khác nhau.


Network Location Awareness (NLA):Tập hợp và lưu trữ thông tin về cấu hình và vị trí mạng. Đưa ra thông báo khi những thông tin này thay đổi.

Network Provisioning Service:Quản lý cấu hình của file XML trên một miền cơ sở cho mạng được cung cấp tự động. (XML được thiết kế để thực hiện lưu trữ dữ liệu và phát hành trên các Web site không chỉ dễ dàng quản lý hơn, mà còn có thể trình bày đẹp mắt hơn. XML cho phép những người phát triển Web định nghĩa nội dung của các tài liệu bằng cách tạo đuôi mở rộng theo ý người sử dụng)


Plug and Play : Bạn cần dịch vụ này để nhận biết các thiết bị mới gắn vào Pc, bên trong hay bên ngòai, PCI hay USB, Fire wire đều sẽ cần đến nó, hay chỉ đơn giản là WinXP cần giao tiếp tìm kiếm lại phần cứng nào đó trong 1 số lý do.



Print Spooler: Nếu bạn không dùng máy in thì hãy tắt nó đi thì hơn.
Remote Desktop Help Session Manager : Đừng để ai đó điều khiển máy bạn nếu bạn không muốn bị vậy


Remote Procedure Call : Trong winXP, các ứng dụng được phân chia trong công thức Cá thể tiến trình. Không 1 trình nào ảnh hưởng đến trình nào. Khi 1 phần mềm bị đứng, treo hay không trả lời, nó sẽ không ảnh hưởng đến tòan bộ máy như Win98. Để quản lý hết tất cả những phần mềm này 1 cách thuận tiện, RPC là dịch vụ cần thiết sắp xếp phân vùng bộ nhớ phát cho từng ứng dụng. Nếu tắt nó sẽ gây ra lỗi hệ thống rất nghiêm trọng. Vì vậy bạn đừng làm điều đó.


Remote Registry Service : Bạn có thích cho người dùng khác trên 1 mạng máy tính thay đỗi các thiết lập trong Registry, trái tim của hệ điều hành trên máy bạn ? Bạn sẽ không tìm ra được nguyên nhiên ngày nào đó WinXP bị..vỡ tim đâu. Dịch vụ này là 1 dạng của sự bất bảo mật cho máy.


Security Accounts Manager: Dịch vụ Lưu trữ những thông tin bảo mật cho tài khoản của người dùng tại chỗ.

Security Center: Theo dõi và quản lý những thiết lập và những cấu hình an toàn của hệ thống

Server: Hỗ trợ file, máy in và tên dùng để chia sẻ thông tin qua mạng cho máy tính bạn đang sử dụng. Nếu bạn không dùng chung mạng với ai đó thì nên tắt nó đi.

Smart Card và Smart Card Helper : Nếu bạn không dùng các thẻ nhớ thì bạn biết phải làm gì với dịch vụ này.

SSDP Discovery : một thành phần của Universinal Plug and Play sắp nói đến. Cho dù bạn tắt hay mở nó, bạn cũng sẽ làm cùng chung 1 việc cho SSDP Discovery.

System Restore : Mừng hết lớn khi có thể bay về quá khứ trước khi bạn cài đặt 1 driver lỗi hay phần mềm làm hại hệ thống là ví dụ thực tiễn cho bạn gợi ý nên tắt ứng dụng này hay không. Tuy nhiên vô hiệu hóa nó sẽ tiết kiệm cho bạn rất nhiều dung lượng đĩa. Lưu ý là nếu bạn đã chọn tắt nó thì tất cả những thiết lập sao lưu sẽ bị xóa hết.

Task scheduler : Đôi khi không mấy hữu dụng đối với bạn, Có thể bạn sẽ không cần phải lập lịch dồn đĩa trong đêm, nhưng Task Scheduler có thể cần thiết với và người khác. Tắt nó hay không tùy vào yêu cầu của bạn có cần hoặc không.

TCP/IP NetBIOS Helper :Là 1 đòi hỏi bình thường nếu hệ thống mạng nội bộ của bạn dùng NetBIOS bởi TCP/IP. Tắt nó nếu bạn cảm thấy không cần thiết. Tuy nhiên khởi động lại nếu như mạng nội bộ của bạn ( thậm chí mạng Internet ) có trục trặc liên quan đến việc tắt dịch vụ này.

Telephony :Bạn vô cùng cần - nói cách khác không thể thiếu nó nếu bạn muốn vào Internet thông qua phương thức quay số = Modem. Nhưng nếu là kết nối ADSL, bạn thử thiết lập nó qua Manual để xem nếu có lỗi nào xảy ra vì có thể nó vẫn đòi hỏi dịch vụ này. Nếu không bạn đã giúp máy có thể tài nguyên hệ thống khá là không ít...

Telnet : Cho phép người dùng máy khác dang nhập vào máy bạn và chạy các chương trình. Nếu như bạn có bao giờ nghe đến việc tấn công qua IP thì Telnet là 1 trong những kẻ 2 mặt tiếp tay cho giặc quậy phá thành của bạn. Tắt nó đi, trừ khi bạn cần nó cho 1 lý do nào đó

Uninterruptible Power Supply :An tòan để vô hiệu hóa. Trừ khi bạn có cục UPS cho máy tính mình. Universinal Plug and Play : Tự hỏi bạn có muốn máy mình kiểm tra và tìm hiểu các thiết bị có trên máy người khác trong 1 mạng máy tính nội bộ ? Có thể nó cần thiết nếu như bạn xài Internet Connection Sharing và cho phép người ngòai hiệu chỉnh kết nối cho máy bạn. Dù sao đi nữa, nếu như thật sự không biết gì, bạn có thể tắt nó cũng được.



Webclient : Theo sự mô tả, dịch vụ này cho phép bạn duyệt qua "Network Places" , thực chất đó là mạng Internet. Nó cho phép các chương trình Windows tạo, xâm nhập và thiết lập tập tin trên nền Internet. Theo như 1 số thử nghiệm, nếu như bạn không có kết nối Internet, dịch vụ có thể làm chậm lại máy và cách bạn duyệt web. Vô hiệu hóa để nhận ra và xem xét những sai sót có thể gây phiền cho bạn, nếu không thì bạn đã tiếp tục giảm gánh nặng cho hệ thống.

Windows Audio: Bạn muốn nghe tiếng - âm thanh thỏ thẻ của Pc phát ra từ 2 giàn loa 480 Watts của bạn thì nên để cho dịch vụ này khởi động bình thường. Đối với nó, bạn chỉ nên vô hiệu hóa khi máy không có sound card hoặc chip sound trên bo mạch.

Windows Image Acquisition : Nếu như đơn giản là bạn không có Webcam hay máy Scan hình thì tắt dịch vụ này đi. Tuy nhiên cho dù bạn có, tắt ứng dụng này chắc cũng không ảnh hưởng, vì vậy hãy tắt nó đi cũng được. ( Hay thay nó thành Manual để thử nghiệm trước khi bạn thật sự tắt nó .


Windows Installer : Trợ giúp cho các trình cài đặt .MSI có thể phân phối dữ liệu trong nó cho máy bạn. Nhưng thật chất không phải lúc nào bạn cũng cài-cài-cài phần mềm vào máy mình liên tục. Thay cách khởi động của nó vào Manual sẽ giảm tối thiếu dung lượng Ram bị chiếm.


Windows Management Instrumentation :Dịch vụ này cho phép sự giao tiếp các phần mềm có thể xâm nhập và dùng những tính năng trong Windows có thể diễn ra trọn vẹn. Bản thân windows cũng dùng đến Windows Management Instrumentation, như những trình khác làm, tốt nhất bạn để nó họat động.
Windows Time :Đồng ý là thời gian là vàng là bạc là hàng lọat thứ một đi không quay lại. Nhưng nếu như bạn không muốn Windows phải chú trọng đến điều đó cho bạn, nếu như bạn không cp1 1 máy tính luôn kết nối mạng thì không đồng bộ hóa giờ giấc không có nghĩa là bạn có tội.


Wireless Zero Configuration : Bạn dùng mạng không dây? Nếu không, nên vô hiệu tính năng này.
WMI Performance Adapter : Windows Management Instumentation ( WMI ) là 1 ứng dụng rất có ích nhưng nó có thể làm chậm máy.Nếu như bạn không phải là 1 nhà thiết kế chương trình thì không cần quan tâm đến việc này. Ngòai ra bây giờ bạn có thể tắt nó đi.

note:mỗi máy tính đều khác nhau, có dịch vụ ở máy này không cần nhưng có thể ở máy khác lại cần ( chẳng hạn giữa máy nối mạng internet với máy không nối mạng chẳng hạn), cho nên bạn nên cẩn thận khi disable dịch vụ nào đấy bởi nó có thể làm cho máy tính không khởi động được. Cách tốt nhất là chọn manual.
 

Thay đổi nội dung đĩa Hiren’s Boot


Đây trả lời: Chúng tôi xin hướng dẫn bạn các bước thực hiện chung như sau:
- Tải file ISO của Hiren’s Boot 7.8 tại địa chỉ

Code:

http://www.9down.com/downloads.php?fileid=288

hay dùng chương trình UltraISO

Code:

www.ezbsystems.com/ultraiso/index.html

) để tạo file hình ảnh dạng ISO cho đĩa Hiren’s Boot đang có bằng cách chạy UltraISO rồi vào menu Tools chọn lịnh Make CD/DVD Image.
- Chạy UltraISO, mở menu File, chọn Open và mở file ISO của Hiren’s Boot. Bạn sẽ không thấy được phần Boot trên đĩa mà chỉ thấy được thư mục BOOTCD là nơi lưu trữ tất cả các chương trình tiện ích của Hiren’s Boot (nếu có những thư mục hay file khác ngoài thư mục này là chúng đã được thêm vào khi người ta ghi đĩa). Tiếp tục mở menu Bootable, chọn Save Boot File để trích xuất phần Boot của đĩa thành file có tên mở rộng là “.bif”.
- Chạy chương trình WinImage (http://anonym.to/?http://www.winimage.com/winimage.htm) > mở menu File, chọn Open và chỉ định file Boot đã lưu (.bif) > trong cửa sổ liệt kê file bên phải, bạn sẽ thấy các file chính yếu trong quá trình khởi động của Hiren’s Boot. Quá trình này có thể tóm tắt như sau: Nạp jo.sys để bạn chọn khởi động bằng CD hay ổ cứng > nạp config.sys để nạp menu cho bạn chọn rồi đến autoexec.bat để cài đặt driver và xác lập môi trường hoạt động tùy theo menu bạn đã chọn > nạp startup.bat để tạo ổ đĩa RAM và giải nén các file cần thiết tương ứng với menu đã chọn từ CD xuống ổ đĩa RAM. Như vậy, muốn thay đổi menu và các phần mềm trong đĩa Hiren’s Boot, bạn phải trích xuất các file autoexec.bat, autoexec.dat, config.sys, startup.bat ra để chỉnh sửa nội dung (bấm phím phải chuột vào file > chọn Extract trong menu ngữ cảnh). Sau khi chỉnh sửa xong bạn xóa các file cũ bằng lịnh Delete file trong menu ngữ cảnh và chèn file mới vào bằng cách mở menu Image rồi chọn Inject. Cuối cùng, mở menu File chọn Save để lưu lại các thay đổi trong file bif và đóng WinImage. (tham khảo các thông tin về file batch tại địa chỉ

Code:

http://www.computerhope.com/batch.htm
http://www.chebucto.ns.ca/~ak621/DOS/BatBasic.html

- Chạy UltraISO và mở file ISO của Hiren’s Boot > mở menu Bootable, chọn Load Boot File rồi chỉ định nạp file bif mà bạn đã thay đổi. Đồng thời, để đồng bộ với việc sửa file bif bạn cần xóa bớt hay thay đổi nội dung các bộ chương trình nằm trong thư mục BOOTCD (dạng nén uha hay cab) cho phù hợp. Cuối cùng, bạn mở menu File, chọn Save để lưu tất cả thay đổi.
Chú ý: Để giải nén file cab, bạn dùng chương trình extract.exe (có trong file bif) với dòng lịnh: extract /y /e file.cab. Để giải nén file uha bạn dùng chương trình uharcd.exe (có trong thư mục BOOTCD) với dòng lịnh: uharcd x -y+ file.uha. Bạn có thể tham khảo thông số lịnh của 2 chương trình giải nén này bằng cách gõ extract /? hay uharcd /?.
- Cũng trong UltraISO, bạn mở menu Tools, chọn Burn CD/DVD image để tạo đĩa CD Hiren’s Boot đã được sửa chữa theo ý bạn.

* 1 Số Thủ Thuật Regedit hữu ích!

1. Tắt Tình Năng Error Reporting
1: Mở Control Panel
2: Nhấn vào Performance và Maintenace
3: Nhấn vào System
4: Rồi nhấn vào Advanced tab
5: Nhấn vào nút error-reporting phía dưới của Windows
6: Chọn Disable error reporting
7: ok và ok.
2. Làm biến mất mũi tên trong Icon tên Desktop
1: Mở Regedit
2: Tìm đến dòng HKEY_CLASSES_ROOTlnkfile
3: Xóa IsShorcut registry
4: Khởi động lại máy để có hiệu lực.
3. Làm hình ảnh nhỏ hơn không thấy
Khi bạn thử gửi hình ảnh qua email,bạn cần có thêm chức năng làm chúng nhỏ hơn. Nếu chức năng này kô có, một file DLL cần phải được đăng ký.
1:Start
2:Run
3:regsvr32 shimgvw.dll
4. Ẩn computer trên 1 Network
Chạy: Run/ net config server /hidden:yes
5. Dọn Dẹp Taskbar

Trong regedit:
Đến khóa
[hkey_local_machine][SOFTWARE][Microsoft][Windows][Current Version]

Sau đó đến khóa:
[Run]
[Run Once]
[Run Services]
Tìm thứ bạn không cần và/hoặc muốn trong taskbar và xóa chúng.
Khởi động lại và hưởng thụ taskbar được dọn dẹp!
6.Tăng tốc hệ thống FILE
NTFS là một hệ thống file tuyệt vời, nhưng bộ những tính năng của nó đi kèm với sự giảm hiệu suất nhỏ. Bạn có thể khắc phụ điều này với những mẹo sau:
* Theo mặc định NTFS sẽ tự động cập nhật tem giờ mỗi khi một thư mục được truy cập. Đây không phải là một tính năng cần thiết,và nó giảm tốc độ những ổ đĩa lớn. Loại bỏ nó bằng cách vào Run và gõ regedit:
Đến khóa:
HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Contro l\FileSystem và thiết lập giá trị 'DisableNTFSLastAccessUpdate' bằng 1.
* NTFS dùng các file chính rất khác nhau kiểm soát các bảng để lưu trữ  thông tin về hệ thống file của các ổ đĩa. Cùng với thời gian những file MFT này lớn lên và bị phân mảnh, làm chậm tất cả các truy cập đến ổ đĩa. bằng cách thiết lập dự trữ một khoảng trống nhỏ, MFT's có thể lớn lên mà không bị phân mảnh.
Trong cùng khóa với nơi bạn đã loại bỏ tính năng truy cập trước đây, tạo một giá trị DWORD mới là 'NtfsMftZoneReservation' và cho giá trị bằng 2.
7. Hủy bỏ DLL Caching (lưu trữ DLL)

Windows Explorer vẫn lưu trữ các DLL (Dynamic-Link Libraries) trong bộ nhớ trong một thời gian sau khi ứng dụng sử dụng chúng đã được đóng. Điều này có thể làm việc sử dụng bộ nhớ không hiệu quả. Cách hủy bỏ:
Vào Registry(Start -> Run -> gõ Regedit, Enter)
1. Tìm đến khóa [HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\Curr entVersion\Explorer].
2. Tạo một giá trị DWORD mới tên là  'AlwaysUnloadDLL' và thiết lập giá trị bằng 1 để hủy bỏ DLL caching trong bộ nhớ.
3. Khởi động lại Windows để các thay đổi có hiệu lực.

Tăng tốc kết nối Internet đến 20% (Cable Users Only)
1.Đăng nhập với tài khoản "Administrator".
2. Start -> Run -> gõ gpedit.msc ,Enter
3. Mở nhánh "Local Computer Policy".
4. Sau đó mở nhánh "Administrative Templates" (dưới user Configuration).
5. Mở nhánh "Network".
6. Điểm sáng "QoS Packet Scheduler" ở ô bên trái.
7. Trong ô cửa sổ bên phải double-click vào thiết lập "Limit Reservable Bandwidth".
8. Trong nhãn settings chọn "Enabled".
9. Thay đổi "Bandwidth limit %" bằng 0.
10. Và đến các kết nối mạng của bạn Start=>Control Panel>Network & Internet connections>Network Connections và click chuột phải vào kết nối của bạn. Sau đó trong nhãn General hay Networking , (Nơi nó liệt kê các giao thức của bạn) chắc chắn rằng QoS packet scheduler được kích hoạt.
Nó có thể có hiệu quả ngay lập tức trên một vài hệ thống. Để đảm bảo chắc chắn hãy khởi động lại.
Tôi không khuyên bạn làm tất cả cũng một lúc, làm một động tác sau đó khởi động lại để chắc chắn, Tôi không chịu trách nhiệm về những gì xảy ra với máy của bạn. Hy vọng mọi người thấy nó hữu ích.
 

 

All Developed By Mr.Luan